Ngày đăng : 07/05/2013

Khai sáng và Trưởng thành


Khi trả lời câu hỏi: Khai sáng là gì? Kant bảo: “Khai sáng là sự thoát ra của con người khỏi tình trạng chưa trưởng thành (nonage) do chính con người tự gây nên…”. Và phương châm để Khai sáng (khai minh/ khải mông) là gì? Ta hãy dám biết và hãy can đảm sử dụng lý trí của chính mình.

Bài gỡ băng sau đây từ buổi nói chuyện của nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn với chủ đề Khai sáng và Trưởng thành tại diễn đàn Talk&Think do Sách Hay tổ chức sẽ cho chúng ta nhiều thứ để xúc cảm và suy tư.

*
*  *

1. Trưởng thành là đại thức tỉnh

Triết học không phải là chuyện gì đó khô khan, xa vời khiến người ta ngán ngại. Cách đây chừng 200 năm, triết gia Hegel (Đức) tới khai giảng tại Đại Học Berlin với môn Triết học và ngạc nhiên khi số lượng sinh viên tham gia đông hơn những gì ông nghĩ. Với niềm vui đó, ông đã viết trong giáo trình của mình những câu rất cảm động: Hóa ra, nước Đức đã trưởng thành, họ đã bỏ sau lưng mình những đau khổ, tủi nhục của sự thất trận và của sự ê chề nhục nhã để bắt đầu sự bình an trong tâm hồn để có thể dành một lỗ tai cho triết học và như thế chứng tỏ nước Đức còn có tương lai.

Đừng quên rằng, năm 1807, Đức còn là nước Phổ, thua trận tan nát, bị Napoleon chiếm hoàn toàn và nước Phổ không còn gì, lại phải bồi thường số tiền gấp 16 lần thu nhập quốc dân. Cả nước Đức khi ấy xơ xác tiêu điều, thế nhưng chỉ mười mấy năm sau đó, Đức đã gượng đứng dậy mà còn đứng thẳng lưng thành một nước hùng cường nhất châu Âu, một trung tâm của khoa học, triết học, kĩ thuật, thương mại và là hình mẫu phát triển của thế giới vào giữa thế kỷ 20. Rõ ràng, phải có một số điều kiện nào đó thì triết học mới trở lại với cuộc sống và đóng góp phần nào đó cho việc hồi sinh một dân tộc tưởng đã bị gục ngã trước hoàn cảnh khắc nghiệt.

Hôm nay, trước sự có mặt đông đảo của các bạn trẻ, tôi thực sự cảm động, không chỉ với cá nhân tôi mà nói to tát như nhà triết học Hegel là các bạn đã dành một lỗ tai cho tư tưởng, cho sự trở lại, sự đứng dậy của tinh thần dân tộc.

Đề tài ngày hôm nay, không biết có phải ngẫu nhiên hay không mà rơi trúng vào thời điểm mà hơn lúc nào hết, hết sức bức xúc; một thời điểm mà nơi đó, tiếng gọi đại tỉnh thức, tỉnh ngộ, giật mình đã trở thành nhu cầu hết sức khách quan, và đương nhiên. Chưa lúc nào như lúc này sự thức tỉnh lại trở nên lớn lao như thế. Cho nên, khai sáng hay trưởng thành thực chất là thức tỉnh, xét về mặt lịch sử đó là cơn giật mình, những cơn tỉnh ngộ lớn của nhân loại.

Bản thân tôi không phải là nhà sử học nên không thể trả lời câu hỏi lịch sử nước ta nói chung, châu Á nói riêng đã có mấy lần đại thức tỉnh? Đây là câu hỏi mà các nhà sử học phải trả lời, và các bạn trẻ thử tìm hiểu xem. Trong khi ở châu Âu và Bắc Mỹ người ta đã trải qua nhiều đợt đại thức tỉnh. Nếu không có những đợt đại thức tỉnh đó thì không có Âu Mỹ ngày hôm nay, không có nền văn minh Âu Mỹ hiện đại như ngày hôm nay.

Tại sao, sự đại thức tỉnh đó lại xảy ra ở Âu Mỹ mà chưa thấy nổi bật ở phương Đông. Trong khi, phương Đông chúng ta có những nhà đại tư tưởng, những bậc giáo chủ với nền văn minh nổi bật mà đọc lịch sử chưa thấy nổi bật giai đoạn nào gọi là đại thức tỉnh của châu Á hay nói riêng dân tộc mình?

“Khai sáng” và “Trưởng thành” thực chất là một, cái này là hậu quả của cái kia, cái kia là nguyên nhân của cái này, không thể tách rời nhau: Sẽ không trưởng thành nếu không có nhu cầu khai sáng và ngược lại không khai sáng thì không thể trưởng thành được. Hai khái niệm này nó quyện chặt vào nhau và có nghịch lý, giống như câu chuyện con gà và quả trứng, cái nào có trước, cái nào có sau: cần khai sáng trước rồi mới đến trưởng thành hay là đợi trưởng thành rồi mới khai sáng?

Bui Van Nam Son 2

2. Khai sáng - lịch sử một diễn trình

Hằng ngày, chúng ra dùng rất nhiều khái niệm, chẳng hạn tự do, dân chủ, văn hóa hay thậm chí trừu tượng như ý thức, lý tính… nhưng ít khi ta đặt câu hỏi thuật ngữ đó từ đâu mà ra. Mỗi một thuật ngữ, mỗi một từ như vậy đều có một lịch sử, nghĩa là có cả một diễn trình chứ không phải tự nhiên từ trên trời rơi xuống.

Ví dụ, khái niệm “tự do” từ đâu mà có, rồi người Việt Nam tiếp thu chữ này như thế nào? Như thế hệ bố tôi (nếu cụ còn thì năm nay chừng 110 tuổi) không hề biết tới khái niệm “tự do”, bởi với Nho học khái niệm đó rất bậy bạ. “Tự do” có nghĩa là tự tung tự tác, vô phát vô thiên. Tóm lại là các nhà Nho rất dị ứng với từ đó. Mà không chỉ ở ta, đầu tiên là ở Nhật, những nhà Nho học lúc bấy giờ phản đối, không có khái niệm “freedom”. Mãi tới 50 - 70 năm, từ phong trào Minh Trị Duy Tân, người ta mới chấp nhận “tự do” theo nghĩa tích cực thông thường. Và phương Đông mình bắt đầu tiếp thu theo nghĩa đó của nước Nhật, từ đó chúng ta có khái niệm tự do.

Mỗi một khái niệm đều có lịch sử và mỗi khái niệm làm nên lịch sử, khi nó ra đời phải tiền giả định xã hội văn hóa nào đó khiến cho nó ra đời được. Và khi nó đã ra đời rồi thì bản thân nó sẽ làm lay chuyển xã hội, lay chuyển tư duy, thay đổi nếp sống. Đó là trường hợp của chữ “khai sáng” và “trưởng thành” như là hai trong nhiều ví dụ khác. Xin nói chữ “trưởng thành” trước, sau đó sẽ đề cập đến “khai sáng”.

Chữ “trưởng thành” đối với mình nó thông thường quá, trong từ điển hoặc ngoài đời hay nói đứa bé đã trưởng thành hay người đó hết tuổi vị thành niên. Thông thường, tuổi 18 đánh dấu sự trưởng thành, trưởng thành về mặt sinh lý và bắt đầu phải chịu trách nhiệm về mặt công dân và, nghĩa là năng lực pháp lý. Nhưng đó chỉ là bề ngoài, cái nói lên sự trưởng thành thật sự phức tạp hơn nhiều. Ngày nay có cả một môn học gọi là Lý thuyết về sự trưởng thành, một bộ phận của môn giáo dục. Học sư phạm là học về giáo dục, học về lý thuyết sự trưởng thành và mục tiêu giáo dục là đào tạo sự trưởng thành. Nó là lý thuyết phức tạp, có nhiều trường phái, chủ trương và nhiều tranh luận.

Phương Đông mình mặc nhiên vẫn có đề cập về sự trưởng thành nhưng không hình thành một lý thuyết đầy đủ. Chẳng hạn, Nho học ngày xưa phân cuộc đời thành nhiều giai đoạn, nổi tiếng là lý thuyết của Khổng Tử. Theo ông cuộc đời chúng ta phân ra nhiều giai đoạn. Ông nói: “Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, Tam thập nhi lập, Tứ thập nhi bất hoặc, Ngũ thập tri thiên mệnh, Lục thập nhi nhĩ thuận, Thất thập tòng tâm, sở dục bất du củ”. Nghĩa là “Mười lăm tuổi chuyên học, Ba mươi lập chí vững, Bốn mươi không ngờ vực, Năm mươi biết mệnh trời, Sáu mươi nghe thuận lẽ trời, Bảy mươi làm theo sở thích nhưng không vượt đạo lý”.

Chia sẻ ấy của Khổng Tử thật sự gần gũi và khát quát, đó là chưa kể tới Lão Tử, Đức Phật…

Nhưng nhìn lại lịch sử giáo dục phương Đông chưa nổi bật lên học thuật có đầu có đuôi có biện pháp, có công cụ thực hiện cho cái gọi là lý luận về sự trưởng thành trong khi đó lại là cốt lõi của lý thuyết sư phạm ở phương Tây. Bởi người ta cho rằng trưởng thành không chỉ là về mặt sinh lý hay pháp lý, nó đòi hỏi 4 điểm: 1. Con người tự do; 2. Tự trị;  3. Có năng lực chính trị, có khả năng tham gia công việc quốc sự; 4. Phản tư, phản tỉnh, suy nghĩ được về chính mình và môi trường xung quanh mình từ đó thiết kế cuộc đời mình một cách tích cực (tôi muốn tôi thành cái gì, tôi tự thiết kế cuộc đời tôi, tôi tự tổ chức cuộc sống của tôi...).

Trưởng thành là lý tưởng giáo dục kinh điển, ít ra là ở phương Tây. Xoay quanh vấn đề này, có nhiều quan điểm khác nhau. Ở đây, ngoài quan niệm nổi tiếng của đức Khổng Tử vừa nói trên đây, ở phương Tây có 3 nhân vật cần lưu ý, thứ nhất là Rouseau, nhà tư tưởng vĩ đại nước Pháp; thứ hai là Immanuel Kant, người Đức; và thứ ba là Adorno - triết gia hiện đại người Đức.

Ông Rouseau bảo rằng con người muốn trưởng thành cần 3 yếu tố hay 3 quyền lực: thứ nhất là thế giới tự nhiên, thứ hai là thế giới đồ vật và thứ 3 mới đến con người (cha mẹ, thầy giáo, bạn bè...). Phải có ba yếu tố này con người mới trưởng thành được. Giới tự nhiên và đồ vật bất động nó không thay đổi trong khi con người là cái gì đó khả biến, thay đổi được, cho nên trưởng thành chủ yếu dựa nào năng lực của con người, có thể là bản thân mình, cha mẹ mình, người giáo dục mình, bạn bè mình, những người xung quanh mình... Với ông ba yếu tố đó trở thành 3 nhà giáo dục, quyết định sự trưởng thành của chúng ta, trong đó con người là yếu tố then chốt.

Có những người xuất sắc nói rằng tôi không cần thầy cũng trưởng thành. Đó là những hiện tượng hiếm hoi và vô cùng quý giá. Nhưng không phải ai cũng đạt được cái mức độ không cần học, không cần thầy mà trưởng thành. Những kẻ tầm thường như chúng ta thì phải có thầy mới có thể trưởng thành được. Giáo dục, do vậy, theo quan điểm của Rouseau là để đứa bé sống trong tự nhiên, làm việc với đồ vật và với sự hướng dẫn của người thầy mới trưởng thành. Tư tưởng này được Rousseau trình bày rất thuyết phục trong cuốn sách hấp dẫn “Émile hay là về giáo dục” đã được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt. Cuốn sách nói về quá trình giáo dục đứa trẻ từ khi mới sinh ra cho đến khi trưởng thành, làm sao để Émile có được cả 4 yếu tố như đã nói ở trên. Nghĩa là trưởng thành là phải thông qua giáo dục.

Quan điểm thứ 2 cũng rất nổi tiếng là của Imanuel Kant, một đại triết gia, chừng mực nào đó có thể coi là “cha đẻ” của khái niệm “Khai sáng”. Toàn bộ sự nghiệp của Kant rất đồ sộ, trong đó nổi bật là bài luận ngắn chừng 10 trang với nhan đề: “Để trả lời câu hỏi thế nào là khai sáng?”. Đây là một bài viết rất hay, ngắn gọn, dễ hiểu và tập trung tinh hoa của cả một thời đại. Ông định nghĩa: “Khai sáng là ra khỏi trạng thái vị thành niên hay trạng thái chưa trưởng thành do tự mình chuốc lấy”. Câu này nó sâu sắc ở chỗ “do tự mình chuốc lấy”, nghĩa là trạng thái vị thành niên, chưa trưởng thành là do tự anh gây ra cho anh chứ không do vấn đề tuổi tác hay hoàn cảnh xã hội. Một người năm mươi tuổi, bảy mươi tuổi vẫn vị thành niên như thường. Đó là lí do mà nhà thơ Tản Đà nói: “Dân hai lăm triệu ai người lớn / Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”.

Cái lỗi này là do tự mình chuốc lấy chứ không phải khách quan. Bởi vì, Kant nói tiếp ngay sau đó, rằng cái vị thành niên, trạng thái chưa trưởng thành này không phải do anh thiếu trí khôn, thiếu đầu óc mà do anh thiếu dũng cảm dùng chính cái đầu của mình mà không có sự hướng dẫn của người khác. Nghĩa là do sự lười biếng và sự nhát sợ.

Thứ nhất, làm theo hướng dẫn của người khác thì thoải mái, anh mang xiềng xích đã quen rồi, bây giờ tháo xiềng xích ra thì thấy bơ vơ, lúng túng, mất thoải mái. Không có gì sung sướng và thoải mái bằng cái gì cũng có người khác hướng dẫn: học thì có thầy; đau ốm thì có bệnh viện, bác sĩ; làm việc thì có sếp, có chỉ đạo, có chỉ thị, cứ thế mà làm; về tư tưởng thì có người khác hướng dẫn cho…

Thứ hai là thiếu sự dũng cảm bởi vì sử dụng đầu óc của mình thì một là rất mệt vì phải động não và hai là nguy hiểm vì có thể bị thách thức bởi các định chế xã hội. Không có gì nguy hiểm bằng việc tự mình mở con đường mà đi, chưa nói những trở lực, cạm bẫy... Cho nên, với Kant, trưởng thành là phải vượt ra sự lười biếng, sự thiếu dũng cảm để sử dụng chính cái đầu của mình.

Vậy, lấy gì để chứng minh rằng mình đã sử dụng cái đầu của mình? Ai cũng bảo là tôi rất trưởng thành, tôi luôn suy nghĩ bằng cái đầu của tôi. Lấy gì để chứng minh?

Nếu anh chỉ sử dụng cái đầu của anh cho chính anh thì nguy hiểm ở chỗ là tôi không không kiểm tra được trong đầu của anh có cái gì trong đó không, hay là trống rỗng. Mà nếu trống rỗng thì việc sử dụng kia là vô ích. Chuyện này Đức Khổng dạy từ lâu: Học mà không suy nghĩ thì sai lầm nhưng suy nghĩ mà không học thì vô ích.

Nhưng có một tình trạng rất phổ biến là mỗi người đều mang một lúc hai, ba vai trò: khi vào trong cơ quan tôi là nhân viên, khi đi vào quân đội tôi là người lính… Bình thường lẽ đời là làm công chức hay người lính thì đều phải chấp hành kỷ luật, mệnh lệnh thì công việc mới trôi chảy. Nhưng mặt khác ta muốn suy nghĩ bằng cái đầu để chứng tỏ là trưởng thành như ông Kant nói thì lại mâu thuẫn quá.

Kant mới đưa ra giải pháp và giải pháp này chính là động lực của phong trào khai minh của phương Tây. Ông nói: Chẳng có cách nào cả, ngoài việc anh công khai hóa nó, chỉ khi công khai hóa thì tôi mới biết anh có gì trong đầu thì khi đó mới trưởng thành được. Nhưng anh chỉ giữ trong đầu mình mình biết, cũng tốt nhưng không có ích lợi cho xã hội.

Tư tưởng muốn độc lập thì phải có khả năng thông báo cho người khác, Kant gọi là tính thông báo phổ quát. Tư tưởng sẽ chết ngạt trong phòng kín, không giao thương với người khác, tư tưởng sẽ không thể hiện sự trưởng thành nếu nó không được công khai hóa để mọi người bàn bạc, tranh luận, trao đổi. Kant đề xuất giải pháp rất đơn giản là: Nếu là người lính, tôi phải chấp hành mệnh lệnh quân đội nhưng sau khi đánh nhau xong, với tư cách là một học giả, tôi có quyền phê phán đường lối quân sự của nước tôi, tôi có quyền phê phán đường lối chỉ huy của tổng tư lệnh nước tôi bằng các luận cứ đường hoàng, thuyết phục và công bố công khai. Nghĩa là với tư cách là một người lính, một viên chức, tôi sẽ chấp hành mệnh lệnh, quyết định của cấp trên nhưng đồng thời với tư cách là một học giả tôi có quyền công khai điều tôi suy nghĩ, tôi có quyền thể hiện sự trưởng thành của tôi và tôi chịu trách nhiệm về những gì mình công khai.

Nghe thì hay nhưng xung đột thì sao? Nếu anh viết ra công khai mà mâu thuẫn với đường lối, chủ trương của trên thì sao? Chẳng có con đường nào khác để thể hiện sự trưởng thành là hãy từ chức công khai để trở thành một học giả, nếu thấy rằng việc làm đó không phù hợp với lương tâm và thấy rằng mình không thể cùng chịu trách nhiệm với vấn đề đó được.

Do vậy, Kant mới đưa ra một nhận định rằng ngòi bút là thần linh của pháp quyền, muốn có một nhà nước pháp quyền thì ngòi bút phải là thần linh tức là công khai, cần khoa học công khai, cần tự do báo chí, tự do công luận… nếu không có thì trưởng thành chỉ là một giấc mơ mà thôi.

Ông thứ ba là Adorno, hiện đại, gần mình hơn và là một trong những nhà tư tưởng hàng đầu của nước Đức, người đã góp phần hình thành phong trào cánh tả Âu châu ở những năm 60, 70 và là hạt nhân của trường phái Frankfurt, trường phái hết sức nổi danh của triết học hiện đại. Adorno tiếp tục phát triển tư tưởng của Kant, tiếp thu tâm phân học của Sigmund Freud và kết hợp với triết học hiện sinh lúc bấy giờ để đưa ra quan niệm khác về trưởng thành.

Theo đó, bất cứ ai khi lớn lên thì đều mang hình ảnh của người cha trên đầu mình, không nhất thiết phải là người sinh ra mình bằng xương bằng thịt, mà là thần tượng, bậc thầy, một người làm mẫu mực cho mình. Không ai không có một hình ảnh người cha tâm lý, ngay cả người thất học cũng có. Vấn đề là làm sao để tìm được “người cha” ấy là ai.

Hình ảnh người cha đó quyết định tiến trình trưởng thành của mình. Nếu may mắn anh có một người cha tinh thần thật nhân ái, thật cao thượng, thật đẹp đẽ, thật hoàn thiện thì người cha đó sẽ nâng bước anh đi suốt cuộc đời. Đó là một bậc giáo chủ, một bậc tiên tri, một nhà tư tưởng, một nhà văn hóa lớn đứng sau lưng. Và rất nhiều người trong đời đã may mắn ngay từ khi sinh ra đã có người cha tinh thần đúng nghĩa. Bao nhiêu những tu sĩ, những nhà giác ngộ, họ đạt được những đỉnh cao về mặt tư tưởng là nhờ họ may mắn gặp được người cha tinh thần nào đó. Còn bình thường chúng ta thì cũng có người cha tinh thần nhưng thường rất khó nhận diện. Phải tìm cho ra người cha tinh thần, hãy tự vấn xem những gì ta suy nghĩ hôm nay, ta đang làm hôm nay và ta dự định làm ngày mai có thực chất ta làm không hay là tiếng gọi của một hay nhiều người cha tinh thần nào đó đứng sau lưng mình. Chính việc tự giác như vậy, tự vấn như vậy cũng là một bước để trưởng thành.

Ardono đưa ra một nghịch lý quá trình trưởng thành thực chất là hành động “giết cha”, có “giết cha” thì mới trưởng thành, đó là bi kịch, là đau đớn, là thảm họa cho bản thân mình. Phải vượt qua được người cha tinh thần hay ít nhất là cãi lại lời cha. Hãy đặt lại, xét lại niềm tin, lý tưởng, hay ít nhất cũng phải đối thoại được với người cha mà lâu nay mình chỉ nghe theo. Đây là quá trình đau đớn, thậm chí người ta tự tử vì sụp đổ niềm tin, vì không còn chỗ dựa tinh thần, vì mình phản bội lại người cha tinh thần của mình, phản bội những lý tưởng mình đã theo đuổi từ nhỏ. Thay đổi quê hương tinh thần là biến cố lớn nhất trong đời và đó có thể là con đường của phước, con đường của họa. Nhưng chính bản thân nó đánh dấu sự trưởng thành.

Nghĩa là Ardono đã đi tiếp lý tưởng của Kant, đánh giá sự trưởng thành ở mức độ vượt qua được hình tượng “người cha tinh thần” và liên tục đối thoại với “người cha” ấy. Đó là lý do vì sao có nhiều nhà tư tưởng, văn hóa phương Tây cả đời họ là một chuỗi những đau khổ, một chuỗi những thay đổi quan điểm, một chuỗi những lựa chọn mới mẻ, bất ngờ. Có những người nhất quán từ đầu một đường đi, có những người thay đổi quan điểm 180 độ, kể cả cuối đời vẫn thay đổi tư tưởng.

Đó là sự khác biệt giữa phương Đông và phương Tây. Người phương Đông chúng ta nhiều khi không chia sẻ được, tại sao cả đời ông ta theo cái đó nhưng cuối đời lại xét lại hoàn toàn, tự phủ nhận toàn bộ học thuyết, đánh đổ toàn bộ niềm tin, thú nhận thất bại… Nhưng thực ra, thất bại đó chính là thất bại vĩ đại, là thành công vĩ đại nhất. Ở phương Tây, chúng ta gặp vô số trường hợp như thế, người cuối đời sẵn sàng xét lại những gì mình tin tưởng suốt đời. Đó là chưa nói trong suốt cuộc đời suốt mấy mươi năm họ liên tục thay đổi. Họ không bao giờ đơn giản cả, bởi họ ý thức rằng trưởng thành là quá trình đối thoại với mình và đối thoại với người cha của mình, và nhiều khi người cha đó là bản thân mình.

Tóm lại, theo Ardono, trưởng thành là quá trình liên tục phát hiện, phản tỉnh hình tượng “người cha tinh thần” của mình để đối thoại, tranh cãi và thậm chí vượt qua. Đó là diễn trình liên tục, có thể diễn ra ở cấp độ cá nhân và cũng có thể là quá trình của cả một giống loài.

3. Tinh thần khai sáng là phản biện

Loài người có mấy giai đoạn cắt đứt quá khứ? Không có gì đau khổ bằng việc cắt đứt với quá khứ và cũng không có gì hạnh phúc bằng vượt qua được quá khứ. Trước khi tìm hiểu về vấn đề này, chúng ta lướt qua khái niệm “khai sáng”.

Có nhiều tranh cãi xung quanh chữ “khai sáng”. Trong tiếng Việt chữ này không được chuẩn về mặt ngữ pháp vì nó là sự kết hợp rất “ngang xương” giữa một yếu tố Hán (“khai”) và một yếu tố thuần Việt (“sáng”). Trong khi đó, phương pháp tạo lập từ Hán Việt thường là phải kết hợp 2 yếu tố Hán với nhau, chẳng hạn không thể nói “nữ nhà văn” mà phải nói “nữ văn sĩ”, không nói “nữ nhà báo” mà phải nói “nữ kí giả”… Chữ dùng chuẩn nhất, chính xác nhất phải là “Khai minh”, ngay cả trong các từ điển của Trung Quốc người ta cũng dùng từ này để chuyển dịch từ “enlightenment”.

Nhưng thói quen, chúng ta sử dụng “Khai sáng” nhiều hơn. Vậy “khai sáng” là gì? Xét về mặt cấu trúc Hán Việt, khai sáng ngay bản thân nó là ánh sáng. Gốc gác từ thời cổ Hy Lạp, họ hình dung trí tuệ như ánh sáng, ánh sáng của thượng đế, ánh sáng của lý lẽ. Sự xuất hiện của nữ thần trí tuệ và con chim cú tượng trưng cho điều đó. Nghĩa thông thường phải có ánh sáng tự nhiên, soi sáng những gì mình không thấy rõ, mở mang kiến thức để hiểu rõ vấn đề. Nhưng nghĩa muốn bàn ở đây lại khác.

Thế kỷ 14 có nhà thơ người Ý tên Francesco Petrarch (1304-1374), được coi là 1 trong 3 đại thụ của thế kỷ 13-14 ở nước Ý (trong đó có nhà thơ Dante). Francesco Petrarch là người đầu tiên nổi giận với quá khứ, ông cho rằng toàn bộ thời kỳ trung cổ châu Âu (từ cuối thời kỳ cổ đại Hy La, thế kỷ thứ 4, thứ 5 cho tới thế kỷ 13) là thời kỳ đen tối, lạc hậu và ông dùng từ “đêm dài trung cổ” chỉ thời kỳ này của văn minh châu Âu. Nhận định này là một sự nổi loạn, chống lại hình ảnh “người cha tinh thần” của mình, 10 thế kỷ trôi qua mù mịt, lạc hậu đưa con người vào sự ngu muội, tối tăm. Tất nhiên, nhận định này cũng hơi oan ức vì nếu nghiên cứu kỹ thời kỳ này thì không đến nỗi như vậy. Thời kỳ này có nhiều phát kiến hay lắm, ít ra trong thế giới học thuật thì cũng tự do ghê lắm và cũng có nhiều phát kiến mới mẻ về tri thức ghê lắm chứ không hoàn toàn là bức tranh xám xịt như Petrarch nói. Chẳng qua do phải tỏ thái độ phẫn nộ như vậy với quá khứ và gần như phủ định sạch trơn như vậy với quá khứ thì mới có dũng khí để đi tới cái mới. Chính vì thế Petrarch với thuật ngữ “thời kỳ đen tối” đã mở đường cho thời kỳ Phục hưng của văn minh châu Âu thế kỷ 15, 16.

Chữ ánh sáng đối ngược với bóng tối, muốn ra khỏi bóng tối thì phải tìm đến ánh sáng. Nhưng tìm ở đâu bây giờ? Cái mới thì chưa có, nền công nghiệp hiện đại chưa có mà chỉ mới manh nha mà thôi. Thế kỷ 14, 15 mới chỉ manh nha chế độ tư bản, manh nha khoa học tự nhiên, nhưng chưa có gì vững chắc của tương lai để theo bám. Cho nên, muốn ra khỏi bóng tối thì phải trở về với nguồn cội ban đầu mà họ nghĩ là sáng sủa, văn minh. Và Phục hưng chính là thời kỳ trở lại, về nguồn với Hy Lạp, La Mã. Chính văn minh Hy Lạp, La Mã cổ đại là nguồn ánh sáng bất diệt có thể khắc phục được bóng tối của trung cổ. Động cơ đầu tiên để ra đời chữ khai sáng là trở về nguồn cội.

Thế kỷ 16, người ta vẫn tin như vậy, muốn vượt ra khỏi bóng tối của trung cổ, của lạc hậu là phải trở về nguồn cội, cũng như phương Đông là phải trở về thời hoàng kim của Nghiêu Thuấn. Nhưng tại sao lại là Hy Lạp, La Mã cổ đại? Nó có cái lý của nó! Hồi đó thành phố nổi tiếng của văn minh Ả Rập là Constantinople năm 1463 bị đế chế Ottoman chiếm đoạt. Bao nhiêu học giả, nhà tư tưởng lớn của Ả Rập phải tị nạn sang Ý. Hành trang của họ là những tác phẩm, những công trình của các nhà tư tưởng Hy Lạp, La Mã cổ đại mà phương Tây bấy giờ tưởng là thất truyền. Bấy giờ rất nhiều thông tin mới mẻ, đặc biệt là những diễn văn, những tác phẩm thi ca của các nhà hùng biện Hy Lạp, La Mã được các học giả Ả Rập mang sang đã mở ra chân trời cho giới nghiên cứu lúc bấy giờ. Họ mới vở lẽ té ra thời kỳ cổ đại nó rực rỡ như thế và họ lao vào nghiên cứu, hình thành nên quan niệm mới mẻ về con người, quan điểm mới mẻ về thiên nhiên, quan điểm mới mẻ về xã hội, nó gợi huấn cho cả một thời kỳ, gọi là thời kỳ Phục hưng.

Chuyển sang thế kỷ 17, lại một ngoặt, lại một bước trưởng thành mới. Bấy giờ, những nhà tư tưởng phương Tây cho rằng, có nhất thiết trở về Hy Lạp, La Mã mới tìm ra ánh sáng? Tại sao thời đại của chúng ta không tự đứng vững trên đôi chân của mình mà phải vay mượn thời hoàng kim Nghiêu Thuấn ở đâu đâu? Chúng ta, hãy đứng vững trên đôi chân của mình vì bấy giờ mình có đủ điều kiện thật sự xây dựng một nền văn hóa mới hoàn toàn. Đó là niềm tự tin ghê gớm của người dân Âu châu và Bắc Mỹ cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17. Và đó chính là nguyên nhân ra đời của phong trào khai sáng ở phương Tây. Và thế kỷ 17, 18 được gọi là “Thế kỷ của ánh sáng” - ánh sáng do chính họ thắp lên chứ không vay mượn như thời Phục hưng nữa. Hay nói theo ngôn ngữ hiện đại là cuộc khai sáng này nó tự quy định chính nó, nó tự khẳng định chính nó. Chữ “Tự khẳng định” là chữ tiêu biểu cho giai đoạn này. Chữ này nó ghê gớm lắm chứ không hề đơn giản, nó phải là một cơn đại tỉnh thức, không cần vay mượn quá khứ nữa mà đã có thể tự đứng trên đôi chân của mình, tự vạch con đường đi, tự vạch quy định mới, giá trị mới. Đó là cốt lõi của phong trào khai minh phương Tây. Phong trào này có đặc điểm như sau:

Thứ nhất là viện dẫn hay nương tựa vào lý trí chính mình, như Kant nói lý trí là cơ quan thẩm quyền phổ quát để xác định đúng sai, không dựa vào quyền uy kinh thánh hay bậc giáo phụ, vua chúa mà chính đầu óc con người là nguồn ánh sáng tự nhiên, nó là cơ quan tối hậu có thẩm quyền để xác định đúng sai.

Thứ hai là muốn vậy thì con người không chỉ hiểu chính mình mà còn hiểu xung quanh, bởi ánh sáng là ánh sáng phổ quát. Ánh sáng là ngọn đèn để đọc sách do chính mình viết ra. Thậm chí, toàn bộ giới tự nhiên cũng là một cuốn sách, là văn bản, nếu anh là nhà tín ngưỡng thì nó là do thượng đế sáng tạo nên, còn nếu anh không tín ngưỡng thì giới tự nhiên là cuốn sách vĩ đại, là văn bản có nhiều bí mật thì cần phải đọc, vì thế mới ra đời khoa học tự nhiên. Từ đó, con người mới nhận ra rằng tất cả đều là văn bản, cần phải giải mã, cần phải đọc cho nên có sự khao khát hiểu biết, sự dũng cảm vô lượng trong sự tìm tòi, không có gì không mang ra tìm tòi, khám phá. Khi Galileo dùng kính viễn học nhìn lên bầu trời cũng là lúc ông đang đọc văn bản, xem thử văn bản của vũ trụ viết cái gì…

Thứ ba là vấn đề tôn giáo tín ngưỡng. Chúng ta đừng quên rằng châu Âu thời bấy giờ vẫn còn rất nặng nề, phức tạp về tôn giáo. Tôn giáo là nơi duy trì văn minh, văn hóa, xã hội đồng thời cũng gây ra nhiều ách tắc trong tư tưởng. Thế là bắt đầu có phong trào cải cách tôn giáo ở châu Âu, một cuộc xáo trộn ghê gớm. Vấn đề tôn giáo là vũ khí tinh thần của thời đại, và thái độ của khai sáng là đạt tới độ khoan dung tôn giáo. Bao lâu anh vẫn giáo điều, vẫn tin vào một chuyện không cho người khác tin cái khác thì không thể gọi là khai minh. Đặc điểm của khai sáng bên cạnh lý trí và khoa học tự nhiên là khoan dung tôn giáo. 

Thứ tư, quan hệ giữa người và người bấy lâu nay là căn cứ vào ý chí của bậc quân vương, luật pháp do hoàng đế ban ra. Bây giờ thì không! Luật pháp là phải dựa vào luật tự nhiên, những gì luật tự nhiên có thì áp dụng vào cuộc sống con người, gọi là “pháp quyền tự nhiên”. Nghĩa là luật pháp có chỗ dựa khách quan mà không còn dựa vào ý chí tùy tiện của ông vua. Cho nên, trong luân lý và trong pháp lý dựa vào pháp quyền tự nhiên, đó cũng là một biến đổi ghê gớm. Tất cả những quan niệm hôm nay về nhà nước pháp quyền là dựa vào thành tựu này của thế kỷ 17 ở châu Âu, thay cho luật pháp tùy tiện của vua chúa bằng luật tự nhiên.

Thứ năm, về mặt xã hội, đời sống từng cá thể thì chủ trương thực sự khai phóng để con người có quyền tự do hành động theo ý của mình. Lần đầu tiên “tự do hành động” trở thành khái niệm của thời đại. Ngày nay với chúng ta thì khái niệm này nó thường quá còn ngày xưa thì vô cùng mới mẻ vì trước đó hành động cái gì cũng phải trong khuôn khổ của thần quyền, pháp quyền bỗng nhiên được giải phóng hoàn toàn.

Thứ sáu, về giáo dục thì sao? Hoàn toàn là một nền giáo dục mới mẻ, một quan niệm sư phạm hoàn toàn mới đó là quan niệm tự do tư tưởng, từ đó mới có thể xây dựng được thế hệ học giả hoàn toàn mới mà như Kant nói là “ngòi bút là thần linh của pháp quyền” và tính công khai. Muốn vậy phải có tự do báo chí và ngôn luận! Không có tự do báo chí và tự do ngôn luận thì đừng có nói nền giáo dục mới, đừng có nói tới tính công khai. Đây cũng là thời kỳ đầu tiên mà báo chí tự do ra đời. Đi kèm với tự do báo chí và tự do ngôn luận sẽ là bảo đảm các dân quyền và nhân quyền thể hiện qua cách mạng Pháp và nhất là cách mạng Mỹ. Phải thừa nhận nhân quyền và dân quyền là phổ quát chứ không phải là dân quyền và nhân quyền hạn hẹp trong chế độ mà nó có giá trị tự thân phải được thừa nhận khắp nơi vì tất cả đều là con người, chứ không phân biệt người Pháp, người Mỹ, người Đức... Mà đã là con người nói chung thì đều được sống theo luật tự nhiên và hưởng những nhân quyền, dân quyền phổ quát. Tư tương này hoàn toàn mới mẻ và là cơ sở hình thành nhà nước hiện đại. Quan niệm về nhà nước hiện đại là sản phẩm của thời đại khai minh này, nó thay đổi hoàn toàn tính và chất chức năng của nhà nước. Thay vì tính chất là “thiên định” (trời quy định) thì nay là do dân bầu lên; thay vì chức năng là cai trị thì chức năng là phục vụ cho cộng đồng, là lợi ích chung, phúc lợi xã hội… Nếu không có phong trào khai sáng, có lẽ, chúng ta còn sống trong chế độ thế quyền rất kinh hoàng.

Tính chất chung của thời kỳ khai sáng này là lạc quan về tương lai, lạc quan về lịch sử, lạc quan về năng lực của con người… tóm lại là lạc quan về sự tiến bộ vô tận của nhân loại. Có thể còn hạn chế này, hạn chế kia nhưng đó chỉ là nhất thời thôi rồi ta sẽ vượt qua và đi lên. Bao trùm 2 thế kỷ này (17, 18) là một niềm lạc quan, hào hứng hướng về tương lai của loài người. Họ tin vào những vấn đề của con người dù khó khăn đến mấy cũng sẽ dần dần được giải quyết. Những văn bản của tự nhiên khó đến mấy, bí hiểm đến mấy dần dần sẽ được giải mã qua con đường khoa học.

Bắt đầu từ năm 1750, chính những nhà đại khai sáng của châu Âu đã nhìn lại mình, vì họ có tinh thần khai sáng nên không bị ràng buộc, không bị tinh thần lạc quan quyến rũ đến chỗ mê muội… Họ phát hiện ra điều A, khẳng định điều A nhưng cũng chính họ sẵn sàng xét lại điều A. Khai sáng hay ở chỗ là mở ra cái mới nhưng cũng phê phán ngay cái mới đó... Lịch sử của khai sáng gắn liền với lịch sử phê phán khai sáng, đây là hiện tượng độc nhất vô nhị của lịch sử nhân loại. Ngay từ năm 1750 là cao điểm của phong trào khai sáng, ông Voltaire, ông Diderot đã bắt đầu viết những luận văn có tính chất châm biếm, mỉa mai, đả kích về sự nhố nhăng của thời đại mới.

Đến thế kỷ 18, ở Đức có phong trào văn hóa, gọi là phong trào bão táp xung kích của những thế hệ trí thức trẻ. Họ thấy rằng ngày xưa, con người sống trong thế giới thần quyền tăm tối mệt mỏi, bây giờ tự do, xả láng đến lạnh lùng, mọi việc đều mang ra phân tích, mổ xẻ, trong khi tình người phai nhạt, không còn tình cảm, không còn những rung động, không còn những xúc cảm cao thượng, không còn những mối tình vĩ đại... Phong trào này đã mở ra cao trào lãng mạn, thực chất cũng là phản ứng lại với khai sáng nhưng theo mặt tích cực. Có thể nói, phong trào lãng mạn là con đẻ của khai sáng, muốn cân đối cuộc sống bằng việc ca ngợi đời sống tình cảm, đời sống tâm tư, các mặt khác nhau, các kích thước khác nhau của con người. Hay nói cách khác, phong trào khai sáng đã đi vào bước trưởng thành hơn, nó phải toàn diện chứ không là đơn điệu.

Nói chung, tinh thần khai sáng ở thế kỷ 17, 18 khẳng định niềm tin vào sức mạnh của công luận phê phán. Những gì đưa ra công luận để rồi công luận có chức năng phê phán thì nhất định nó sẽ thúc đẩy sự phát triển. Và tất yếu, một nền văn hóa không đưa ra công luận phê phán thì nhất định sẽ rơi vào trì trệ và thoái hóa, đó là niềm tin chắc nịch.

Khai sáng còn phát triển suốt cuối thế kỷ 18. Thế kỷ 19, 20 ở phương Tây vừa thụ hưởng thành quả của khai sáng đồng thời vừa lãnh nhận những hậu quả của một lối khai sáng phiến diện nào đó. Cho nên, nói khai sáng không chỉ là một bài tụng ca đơn giản mà là phê phán mặt này mặt kia. Ông Ardono nêu ra một khái niệm rất mới, rất thú vị sâu sắc, ông gọi là phép biện chứng của khai sáng. Bản thân của tính khai sáng nó cũng lắt léo và biện chứng, tức là nói vậy mà không phải vậy, có mặt khẳng định và phủ định. Khai sáng là quá trình đầy mâu thuẫn nghịch lý chứ không phải là đại lộ thênh thang hớn hở của thế hệ ban đầu, mà được thế hệ sau trầm tĩnh hơn xem xét lại. 

Vấn đề đặt ra là sau 2 thế kỷ đó của phương Tây, có rất nhiều khu vực trên thế giới nhận thấy rằng ở xứ mình, ở khu vực mình chưa trải qua giai đoạn khai sáng. Giống như một bệnh nhân chưa đến giai đoạn kịch phát, chưa chủng ngừa, chưa được thử thách, chưa có cơn đại tỉnh thức thì làm sao mà trưởng thành được. Cho nên phải làm lại. Nghĩa là có nhiều xã hội cần phải được làm lại giai đoạn này mà không thể nào bỏ qua.

Xét tổng thể, không thể phát triển nếu không trải qua một giai đoạn như vậy, hay kiểu nào đó. Từ nhận thức này, khai sáng hay khai minh xét về mặt phong trào, nó có tính lịch sử nhất định, nó là sản phẩm của hai thế kỷ thậm chí nhiều người tranh cãi về mộc thời gian. Có người cho rằng, khai sáng kéo dài 3 thế kỷ, từ 1500-1800, nhưng có ý kiến khác định rằng từ 1680 - 1830. Hay cũng có người bảo rằng thời kỳ đỉnh cao của khai sáng nó chừng 30 năm, rất ngắn, từ 1750 tới 1780. Chúng ta thì có thể tạm thống nhất là khai sáng diễn ra trong 2 thế kỷ 17 và 18.

Khai sáng chưa xảy ra ở phương Đông trong khi đó ở phương Tây thực ra đã chứng kiến không chỉ 1 lần khai sáng. Đó không phải là may mắn ngẫu nhiên mà là nét đặc trưng. Có ít nhất là 3 đợt khai sáng ở phương Tây, nếu không muốn nói là 4 lần.

Khai sáng đầu tiên của phương Tây là thời kỳ cổ đại Hy Lạp, sau khi Socrates tranh luận với các phái biện sĩ về việc chuyển quan tâm từ vũ trụ về con người, đó là bước ngoặt tỉnh thức. Nhưng đối thủ cừ khôi của ông cho rằng, con người trở thành trung tâm nhưng con người là cái gì. Trong một thế giới mà con người đầy rẫy mê muội, tín ngưỡng như thế thì ông đối thủ này bảo rằng con người là thước đo của vạn vật, không ai giống ai, không có gì là phổ quát. Nghĩa là một sự thức tỉnh, đánh đổ niềm tin của cả thời đại, ta gọi khai minh đó là khai minh Hy lạp.

Lần thứ hai có thể kể đến là thời kỳ của Galileo, là thời kỳ người ta dùng kính viễn vọng nhìn lên bầu trời mới thấy rằng, hóa ra trái đất không phải là trung tâm của vũ trụ, nó méo xẹo, chẳng có thần linh nào mà chỉ có đất với đá. Nhiều nhà thần học đã dứt khoát từ chối không nhìn vào kính viễn vọng đó.

Giai đoạn thứ ba là giai đoạn gượng dậy ở thế kỷ 17, 18 và giai đoạn thứ tư là thời đại hiện nay của chúng ta. Sở dĩ nói thời đại của chúng ta có thể là một giai đoạn nữa của khai sáng là vì chúng ta nhận thấy rằng tất cả những niềm tin quá khứ kể cả niềm tin thời khai sáng này cũng có nhiều mặt cần xét lại chứ không chấp nhận lạc quan đơn giản như vậy. Đó là quan niệm phê phán hiện nay đối với phong trào khai sáng. Nghĩa là, anh phải làm, phải đại tỉnh thức nhưng tỉnh rồi sẽ có lúc mệt và ngủ quên. Trái lại phải giật mình hơn nữa cái thức tỉnh của mình, chứ không ngủ yên. Đó là diễn trình bất tận của khai sáng khai minh, nó không chỉ là cao trào hay là sự kiện lịch sử mà là một diễn trình.

4. Khai sáng, trưởng thành là đào tạo cử tri

Xin mượn lời của nữ triết gia Hannah Arendt để tạm khép lại vấn đề “khai sáng” và “trưởng thành” rằng: thế kỷ 20, 21, 22 nói cho cùng là thế kỷ phải chuẩn bị cho con người làm chủ vận mệnh bằng lá phiếu của mình. Cá nhân mỗi người thì không cùng nhưng cái chúng ta làm giống nhau, làm chung được và công khai được, kiểm tra được chính là lá phiếu của mình. Xã hội hiện đại và trong tương lai là xã hội phải đào tạo được những người bỏ phiếu trưởng thành, vì mỗi lá phiếu xây dựng nền dân chủ trong tương lai nó quyết định vận mệnh của cả cộng đồng. Bỏ phiếu tầm bậy, bỏ phiếu liều lĩnh, bỏ phiếu trong sự ngu dại thì nhất định đưa xã hội dù có tốt đẹp đến mấy cũng rơi vào chỗ trì trệ và phá hoại.

Cho nên, thực chất của khai sáng, thực chất trưởng thành là chuẩn bị đào tạo được những cử tri trưởng thành, vì họ là người quyết định vận mệnh của khai sáng - xã hội - nhân loại. Trở về vấn đề gần gũi là bao lâu chưa có được cử tri đúng nghĩa, những cử tri cầm phiếu của mình một cách có ý thức thì đừng nói tới khai minh hay khai sáng gì cả.

Những tư tưởng này đã được nhà tư tưởng Anh John Stuart Mill bàn tới cách đây mấy thế kỷ: Bây giờ cái gì cần hơn cái gì? Phổ thông đầu phiếu hay phổ thông giáo dục? Ông bảo rằng: “Với nước Anh nghèo nàn lạc hậu lúc bấy giờ, với lực lượng lao động dốt nát thế này, muốn có phổ thông đầu phiếu thì trước hết là có phổ thông giáo dục cái đã”.

Nói như cụ Phan Châu Trinh: Khai dân trí đi đã, rồi mới chấn dân khí và hậu dân sinh. Đương nhiên, nước Anh đã làm theo lời khuyên đó và ngày hôm nay cử tri Anh không chỉ là cử tri tầm thường, họ cầm lá phiếu trên tay và chúng ta phải thừa nhận mức độ trưởng thành của họ.

Tóm lại, nói rông dài, cả một lịch sử phức tạp, không thể tóm gọn trong thời gian ngắn được, chi muốn gắm gửi thông điệp của Hannah Arendt, một nữ triết gia, một chiến sĩ hàng đầu về mặt trận tự do dân chủ nhân quyền lẽ phải, khai phóng của thế kỷ 20, đó là lời kêu gọi: Tất cả hãy chuẩn bị để xây dựng cho được những người cử tri trưởng thành, họ sẽ quyết định vận mệnh của họ, của xã hội cũng như của nhân loại./.

Bùi Văn Nam Sơn