Người Giới Thiệu: Nguyên Ngọc

Văn học là gì?

Văn học là gì?

Tác giả Jean-Paul Sartre
Ngôn ngữ Tiếng Việt
Lĩnh vực Văn học nước ngoài
Dịch giả Nguyên Ngọc
Đơn vị xuất bản Khác
Số trang 0

J.P.Sartre và câu hỏi: Văn học là gì? - Câu trả lời có vẻ đơn giản: văn học là... văn học. Nhưng trả lời như thế, chính là đặt tiếp một câu hỏi, và lại một câu hỏi nữa, mà câu trả lời đâu như còn thấp thoáng ở phía trước.

 

Là một nhà văn tự do và dấn thân, Sartre đã gắn kết hai khái niệm tưởng chừng mâu thuẫn này vào mục đích sáng tạo của nhà văn, bởi người ta có thể hỏi vặn: tự do đôi khi là từ chối dấn thân, và ngược lại, dấn thân có khi là mất tự do? Nhưng nhà văn chân chính lại là người chuyên gắn kết, luôn "cầm tay những đối cực” và luôn hóa giải được những mâu thuẫn tưởng chừng không thể "nhìn mặt nhau”. Nhà văn, theo Sartre, sở dĩ được gọi là nhà văn vì anh ta luôn tồn tại cùng một người khác, một "cái tôi thứ hai" của anh ta: đó là người đọc. Nếu tác phẩm là trung gian giữa nhà văn và người đọc, thì chính sự dọc tác phẩm bởi người đọc (chứ không bởi nhà văn) đã quyết định cho tác phẩm một đời sống, một tồn tại. Và nếu nhà văn là con người tự do khi sáng tác, thì người đọc cũng phải là người tự do khi đọc tác phẩm. Và nhà văn "là con người tự do nói với những con người tự do, chỉ có một đề tài: tự do”. Và như thế, tác phẩm nghệ thuật là giá trị "bởi nó là tiếng gọi". Nhưng cũng theo Sartre, "nhà văn không được tìm cách gây chấn động" dù mục đích tác phẩm là tiếng gọi, mà "tác phẩm nghệ thuật cần có tính chất trình bày đơn thuần: người đọc cần có một độ lùi thẩm mỹ nhất định". Và ở đây, Sartre đã có dịp phê phán T. Gautier rất nặng lời về quan niệm "nghệ thuật vị nghệ thuật" mà thực ra, tự thân văn học phải là như vậy, đã là như vậy một khi nó muốn được công nhận là văn học, là nghệ thuật. Một tư tưởng sáng rõ được trình bày bởi một văn phong phức hợp, nhiều lúc rối rắm những luôn độc đáo, Văn học là gì? của Sartre vừa tranh biện vừa thuyết phục, đôi khi “phang" thẳng những đối thủ vô hình và hữu hình, nhưng mục đích cuối cùng chỉ là vì văn học, vì khát mong đặt văn học, đặc biệt là văn xuôi, đúng chỗ của nó, đúng "đất" của nó, với lòng tin khăng khăng vào sứ mạng cao đẹp của văn học, nhưng không vì thế mà buộc văn học phải trở thành công cụ: nó là “đối tác” của nhà văn, và chỉ khi có người đọc, thì nhà văn mới là nhà văn, tác phẩm mới thành tác phẩm. Có điều, không thấy Sartre nói “người đọc”, là ở số ít hay số nhiều, hoặc theo ông, số ít hay số nhiều cũng thế cả, một người đọc vẫn là "người đọc”, và chỉ cần như thế, tác phẩm đã có thể là tác phẩm rồi, bởi người đọc khát khao, yêu cầu, kỳ vọng ở chính tác phẩm mà mình đọc, họ có thể thấy chính cái mà họ muốn thấy. Và họ phải “liên luỵ", phải cộng đồng trách nhiệm cùng tác giả: "Và toàn bộ nghệ thuật của tác giả là buộc tôi (tức người đọc) phải sáng tạo rạ cái mà anh bóc lộ, tức là, buộc tôi phải liên luỵ". Với Sartre, luôn luôn tự do là sự lựa chọn tự do, và tác phẩm là sự trình bày tưởng tượng về thế giới như một đòi hỏi tự do của con người văn học trở nên gần gũi, thiết cốt mà cũng cao vợi với con người là ở chỗ đó. Cho nên, theo Sartre, "không làm gì có văn học đen", bởi thế giới trong văn học được mô tả dù đen tối tới đâu thì cũng là mô tả cho con người tự do đọc và cảm nhận tất cả niềm tự do nước mắt mình. Vì thế, “chỉ có những cuốn tiểu thuyết hay và những cuốn tiểu thuyết tồi. Và tiểu thuyết tồi là tiểu thuyết toan gây thích thú bằng phỉnh nịnh trong khi tiểu thuyết hay là một đòi hỏi và một tin cậy". Nghĩa là, một tác phẩm hay luôn là người bạn tốt của con người. Do đó, "mọi ý định nô lệ hóa người đọc tác hại ngay đến chính nghệ thuật của nhà văn”. Với Sartre, tự do cầm bút bao hàm tự do công dân, "Người ta không viết cho những người nô lệ". Và văn xuôi, tự thân nó phải mang ý nghĩa dân chủ, và "khi cái này bị uy hiếp thì cái kia cũng bị uy hiếp". Nghĩa là nhà văn không thể vô can, dù nhiều lúc anh ta tỏ ra như vậy. Nhà văn bị buộc phải can dự, và trong khi hướng về một tương lai với cái huyền thoại vinh quang, nhà văn lại thầm lén "ký một thỏa ước thần bí với những người chết vĩ đại" của quá khứ và trong hiện tại, nhà văn trông chờ vào một “công chúng chuyên gia”, có thể hiểu và đánh giá được tác phẩm của mình. Những mâu thuẫn ấy trong mỗi nhà văn là có thật, và Sartre chỉ ra không phải để phê phán, mà để thấy tính phức tạp và nước đôi của văn học. Chưa bao giờ chúng ta được sống trong một xã hội không có giai cấp, vì vậy, mỉa mai thay, và cũng đúng thay, theo lời Sartre, nhà văn thường khi phải lựa chọn giữa vai trò "là chó giữ nhà hay là anh hề" (?) Nhưng dù là gì, tác phẩm của nhà văn bao giờ cũng là "một tiếng gọi tuyệt vọng hướng tới niềm tự do của người đọc mà họ giả vờ khinh miệt".

 

Tác phẩm của nhà văn đẩy những bất hòa được mô tả đến cùng cực, biến thành sự tự bất hòa. Vậy là, trong một xã hội có giai cấp, nhà văn luôn luôn là một khối mâu thuẫn, nhà văn sống và thể hiện những mâu thuẫn xã hội, những mâu thuẫn trong số phận con người bằng chính những mâu thuẫn trong nội tâm mình. Nói cách khác, nhà văn phải “tâm linh hóa" cái thực tại được trình bày trong tác phẩm, cái thực tại chẳng có gì khác hơn là "cái thế giới muôn màu sắc và cụ thế này, với vẻ nặng nề của nó, với cái ác vô hình cứ gặm nhấm nó mà chẳng bao giờ tiêu huỷ nó được". Và, đây là sứ mạng của nhà văn: "Nhà văn sẽ phục hồi lại đúng như vậy, sống sít thế, nặng mùi thế, thường nhật thế để trình bày nó cho các niềm tự do trên nền tảng một tự do". Những lập luận trên đẩy tới một kết luận cuối cùng "rất J.P.Sartre” như sau: "Tóm lại, văn học, trong bản chất của nó, là tính chủ quan của một thế giới trong tình trạng cách mạng thường trực". Chả trách, những suy tưởng về triết học, những lý luận có vẻ thuần tuý văn học của Sartre đã góp phần vào cuộc “cách mạng trí thức" Pháp tháng 5/1968. Văn phong của Sartre là văn phong bùng nổ, nó "máu lửa" như trong một trận chung kết bóng đá, nó thiết lập một đội ngũ những fans cuồng nhiệt, thậm chí nó tạo ra cả những hoohgans. Một tác phẩm viết đã hơn 50 năm nhưng có vẻ chưa lạc hậu khi nhân loại bước vào thế kỷ XXI. Câu hỏi Viết cho ai? vẫn còn nóng hổi tính thời sự. Cái dấn thân mạnh mẽ đầu tiên của nhà văn chính là cái dấn thân vào văn học. Và phải chăng, sự "tự do cuối cùng” cú nhảy cuối cùng của nhà văn là cú nhảy để thoát khỏi chính tác phẩm của mình? Một điều gần như bất khả. Như thế, cũng theo Sartre, nhà văn "bị tự do” nhiều hơn là "được tự do"?

 

Cuốn Văn học là gì? của Jean-paui Sartre, qua bản dịch khúc chiết của Nguyên Ngọc, đã cho chúng ta được tiếp xúc không chỉ tư tưởng hay kiến giải của nhà văn bậc thầy này, mà còn cho thưởng thức văn phong của ông, một văn phong đi giữa triết học và lý luận văn học, một văn phong nhiều lúc được đẩy tới cực đoan nhưng bao giờ cũng đầy cảm xúc. Một thứ cảm xúc bị dồn nén theo kiểu J.P.Sartre.

 

Nhà thơ Thanh Thảo (Theo Cuốn Mãi mãi là bí mật)

THÔNG TIN KHÁC

Thế hệ nào cũng mơ ước thế giới này sẽ tốt đẹp hơn, điều đó đặc biệt đúng đối với nhà thơ đích thực và nhà khoa học đích thực. Đó là ước mơ của Nobel. Đó là một cách để đo lường tầm quan trọng của nhà khoa học. Đó cũng chính là cội nguồn và sức mạnh cảm hứng của Sartre.

 

Jean-Paul Sartre (21/06/1905 - 15/4/1980)

Giải Nobel Văn học 1964

Nhà văn, nhà triết học Pháp

Nơi sinh: Paris (Pháp)

Nơi mất: Paris (Pháp)

 

Jean-Paul Sartre được trao giải vì sự nghiệp sáng tác chứa đựng những ý tưởng phong phú, tinh thần tự do xuyên suốt, những kiếm tìm chân lí không mệt mỏi có ảnh hưởng to lớn đến thời đại chúng ta.

 

J.P. Sartre còn là nhà triết học, nhà hoạt động chính trị - xã hội. Công trình triết học chính của ông, Tồn tại và hư vô, đã trở thành thánh kinh với lớp trẻ trí thức Pháp. Trọng tâm triết lí của ông trong toàn bộ sáng tác là con người tự do đánh giá ý nghĩa cuộc đời mình, tự chịu trách nhiệm về những hành động của mình.

 

Jean-Paul Sartre là con một kĩ sư hàng hải, bố mất khi cậu bé mới một tuổi, mẹ đưa về ở với ông bà ngoại ở ngoại ô Paris. Năm 1911, ông ngoại thành lập học viện Ngôn ngữ Hiện đại, đưa J. P. Sartre về Paris, mời gia sư về dạy, nhưng năm 1917 mẹ lấy chồng khác và đưa con về miền Nam nước Pháp.

 

Từ năm 1924 - 1929, J. P. Sartre học tại trường Sư phạm, trở thành giáo sư triết học tại Le Havre năm 1931. Trong thời gian này ông làm quen với Simon de Beauvoir, một nhà văn lớn sau này trở thành học trò và bạn đời của ông. Năm 1932, ông theo học triết học của Edmund Husserl và Martin Heidegger. Sau khi tiếp tục dạy ở Le Havre và ở Lyon, J. P. Sartre dạy ở trường trung học Pasteur ở Paris trong thời gian từ năm 1937 - 1939.

 

Cuối những năm 30 J. P. Sartre bắt đầu viết những tác phẩm lớn của đời mình, trong đó có Buồn nôn (1938), Bức tường (1938), những cuốn sách tiêu biểu cho dòng văn học phi lí đã giúp J. P. Sartre trở thành một trong những nhà văn hóa lớn nhất của nước Pháp thời kì này. Trong Thế chiến II, do mắt kém, ông không nhập ngũ nhưng vẫn tham gia kháng chiến, bị bắt làm tù binh, sau đó bị nhốt vào trại tập trung. Năm 1941, J. P. Sartre trở về Paris tiếp tục dạy học, viết văn, làm quen với A. Camus. Sau khi Thế chiến II kết thúc, ông thôi dạy học và chuyên tâm vào sáng tác văn học.

 

J. P. Sartre là một trong số các nhà văn coi quan điểm triết học là trung tâm của hoạt động sáng tạo. Tác phẩm triết học chính Tồn tại và hư vô (1943) là sự tổng hợp quan điểm chính của ông về cuộc sống. Chủ nghĩa nhân đạo hiện sinh mà J. P. Sartre truyền bá trong tiểu luận nổi tiếng Chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân đạo cũng được thể hiện rõ trong tiểu thuyết Những con đường của tự do (1945 - 1949). Từ giữa những năm 1940, ông nghiên cứu chủ nghĩa Marx, thành lập tạp chí Thời mới (Les temps modernes), tuyên truyền các ý tưởng cách mạng, hoạt động xã hội.

 

Năm 1964 J. P. Sartre được Viện Hàn lâm Thụy Điển quyết định trao giải Nobel nhưng ông từ chối nhận giải vì không muốn mình biến thành một thiết chế xã hội ảnh hưởng đến công việc hoạt động chính trị cấp tiến. J. P. Sartre nhiệt tình ủng hộ các cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Algeria, Trung Quốc, Cuba, cùng với B. Russell thành lập ủy ban chống tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Những năm cuối đời J. P. Sartre bị mù, không viết được nhưng vẫn trả lời vô số phỏng vấn, thảo luận các vấn đề chính trị với bạn bè.

 

J. P. Sartre cũng được biết đến nhiều với tư cách một nhà viết kịch phi lí. Ông nổi tiếng với các vở kịch Ruồi và Kín cửa. Ngoài ra, J. P. Sartre còn viết phê bình văn học và các bài nghiên cứu về Baudelaire (1947), Jean Genet (1952). Cuốn sách viết về thời niên thiếu của ông, Lời nói, được xuất bản năm 1964.

 

Tác phẩm:

 

- Đề cương lí thuyết tình cảm (Esquisse d’une théorie des émotions, 1939), khảo cứu [Outline of a theory of the emotions].

- Cái tưởng tượng (L’Imaginaire, 1940), nghiên cứu tâm lí [Psychology of imagination].

- Buồn nôn (La nausée, 1938), tiểu thuyết [Nausea].

- Bức tường (Le mur, 1938), truyện [Intimacy].

- Tồn tại và hư vô (L’Etre et le néant, 1943), tác phẩm triết học [Being and nothingness].

- Ruồi (Les mouches, 1943), kịch [The flies].

- Kín cửa (Huis clos, 1944), kịch.

- Con đĩ biết lễ nghĩa (La putain respectueuse, 1946), kịch.

- Chết không mai táng (Mort sans sépulture, 1947), tập kịch ngắn.

- Chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân đạo (L’Existentialisme est un humanisme, 1946), tiểu luận [Existentialism is a humanism].

- Sự đã rồi (Les jeux sont faits, 1947).

- Guồng máy (L’engrenage, 1948).

- Những bàn tay bẩn (Les mains sales, 1948), kịch.

- Những con đường của tự do (Les chemins de la liberté, 1945 - 1949), tiểu thuyết [The roads to freedom].

- Phê phán lí trí biện chứng (La Critique de la raison dialectique, 1960), khảo luận.

- Những người bị cầm tù ở Altona (Les sequestres d’Altona, 1960), kịch.

- Lời nói (Les mots, 1964), hồi kí [The words].

 

Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:

 

- Guồng máy, Trần Phong Giao dịch, NXB Thời Mới, 1963.

- Ả giang hồ (nguyên tác: La putain respectueuse), Nguyễn Minh Hoàng dịch.

- Không một nấm mồ (nguyên tác: Mort sans sépulture, kịch), Trần Phong Giao dịch, NXB Giao Điểm, 1964.

- Những bàn tay bẩn, Phạm Hưng dịch, NXB Ngày Nay, 1965.

- Sự đã rồi, Trần Phong Giao - Nguyễn Xuân Hoàng dịch, NXB Giao Điểm, 1966.

- Những ruồi (nguyên tác: Les mouches, kịch), Phùng Thăng dịch, NXB Thanh Hiên, 1967.

- Ruồi (kịch), Châu Diên dịch, NXB Văn Học, 1989.

- Buồn nôn, Phùng Thăng dịch, NXB An Tiêm, 1967.

- Buồn nôn, Nguyễn Trọng Định dịch, NXB Văn Học, 1994.

- Bức tường, Lê Thanh Hoàng Dân - Mai Vi Phúc dịch và giới thiệu, NXB Trẻ, 1973.

- Kín cửa (kịch), Trần Thiện Đạo dịch, NXB Hội Nhà Văn, 1997.

- Văn học là gì? (tiểu luận), Nguyên Ngọc dịch, NXB Hội Nhà Văn, 1999.

- Về một dòng văn chương, Phạm Viêm Phương - Huỳnh Phan Anh dịch, NXB Văn Nghệ TP.HCM, 2001.

- Con đĩ biết lễ nghĩa, Dương Tường dịch. © Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây.



NHỮNG BÀI GIỚI THIỆU CỦA THÀNH VIÊN KHÁC

J.P.Sartre và câu hỏi: Văn học là gì? - Câu trả lời có vẻ đơn giản: văn học là... văn học. Nhưng trả lời như thế, chính là đặt tiếp một câu hỏi, và lại một câu hỏi nữa, mà câu trả lời đâu như còn thấp thoáng ở phía trước.

Xem tiếp

Xem thêm

NHỮNG BÌNH LUẬN CỦA THÀNH VIÊN

Văn học là điểm sáng của tâm hồn nhưng cũng là bóng tối của trí tuệ nếu quá đam mê và sống như nó. Văn học cho ta tình yêu và thù hận, cho ta hạnh phúc và khổ đau.


BQT đã up link mới cho ebbok này.


Các bạn vui lòng download 10 file để giải nén.


Xem thêm

Đăng ký hoặc Đăng nhập để được bình luận


SÁCH KHÁC CÙNG LĨNH VỰC



Xem tiếp



Sách do đơn vị xuất bản tuyển chọn và giới thiệu

Phan Châu Trinh toàn tập Qua bộ sách, toàn cảnh về con người, hành trạng cùng các mối quan hệ của Phan Châu Trinh được dựng lại một cách tương đối có hệ ...
Xem tiếp


Gửi email cho bạn bè