Đất rừng Phương Nam

Đất rừng Phương Nam

Tác giả Đoàn Giỏi
Ngôn ngữ Tiếng Việt
Lĩnh vực Văn học Thiếu nhi
Năm xuất bản 2012
Đơn vị xuất bản Nxb Kim Đồng
Giá sách 60.000 VND


Có thể xếp Đất rừng Phương Nam vào hàng những Rôbinxơn, Đảo giấu vàng, Dế mèn phiêu lưu ký… được không? Còn phải có thêm thời gian. Chỗ giống nhau: Đất rừng Phương NamCuộc truy tầm kho vũ khí. Sách đã tái bản nhiều lần, anh Xuân Diệu cho biết ở: Hungary đã dịch Cuộc truy tầm kho vũ khí và Đoàn thanh niên Cộng sản Hung tổ chức cuộc thi đọc và tìm hiểu sách. Cuộc truy tầm kho vũ khí là cuộc phiêu lưu của hai lực lượng đối địch, một nhóm 5 lính cụ Hồ và một tiểu đội lính Pháp – Việt đông hơn, có vũ khí hiện đại, có điện đài, có trực thăng và đại bác yểm trợ. Hai bên cùng truy tìm, quyết diệt nhau để chiếm lĩnh một kho vũ khí… Sách dày 160 trang, viết công phu, hấp dẫn với cảm hứng ca ngợi anh bộ đội cụ Hồ. Tuy nhiên do cuộc chiến đấu trong rừng sâu của những người cầm súng nên dung lượng có phần hạn chế. Còn Đất rừng phương Nam, nhân vật có nhiều tầng lớp, nhiều ngành nghề như một xã hội thu nhỏ, hoạt động suốt hai triền sông (Tiền và Hậu Giang) vào rừng U Minh, xuống tận mũi Cà Mau. Đất rừng Phương Nam có kết cấu chương hồi kiểu truyền thống: không gian, thời gian rạch ròi, nhân vật thiện ác, trắng đen tách bạch và bộc lộ qua hành động hình dáng, ngôn ngữ. Một văn cách dễ đọc, dễ hiểu, hợp với đại chúng trẻ em. Mặc cho cả thế kỷ nay, văn chương thế giới không ngừng tìm tòi những cách viết mới: trộn lẫn không gian và thời gian, ý thức, tiềm thức và vô thức…, văn cách truyện kể với những biến tấu khác nhau vẫn không hề mất sức sống. Từ Nghìn lẻ một đêm, Tam Quốc, Thủy Hử ngày xưa đến Harry Potter ngày nay. Biến tấu của Đoàn Giỏi mang tính hiện đại. Đó là cách tiếp cận thời gian tâm lý, cách trộn lẫn các thi pháp sử thi, phản gián, khám phá. Nếu theo truyền thống thì truyện phải kể từ Mỹ Tho, quê An, hay ít ra cũng phải từ ngày tản cư, chạy giặc. Nhưng tác giả đã mở đầu bằng lần lưu lạc thứ ba, sau khi An lạc cha mẹ và đoàn thuyền quân lương. Một ngón chơi theo qui luật: Khi ta ở, đất chỉ là nơi ở. Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn (Chế Lan Viên). Quê hương chỉ sống lại thiết tha trong hồi tưởng khi An lâm vào cảnh bơ vơ. Mặc khác, tác giả muốn tạo lực hút ngay từ dòng đầu, với cảnh chợ đêm Chắc Băng, có nhiều sản vật kì lạ (ba ba, khỉ, rắn…) có đám mão võ Sơn Đông, với quán nhậu Tư Béo có khách ra vào như một sân khấu thời sự. Chính ở đây, An đã gặp những con người vừa tiêu biểu cho thời thế vừa gắn bó với đoạn đời lưu lạc của em: một bác Ba Ngù suốt ngày ở trần, áo vắt vai ngồi rìa quán rượu, vậy mà khi đứng trước tấm biểu ngữ: Tổ Quốc hay là Chết!... thì trịnh trọng mặc áo cài cúc tay mân mê vuốt thẳng đường ta; Một anh Huỳnh Tấn từng tháp tùng thủ lĩnh Trần Văn Giàu đi gặp tướng giặc và từng chứng kiến cảnh những người lính Bình Xuyên chặt ngón tay ngâm rượu đưa trình các tướng lĩnh bày tỏ quyết tâm kháng chiến. Cũng chính ở đây, An đã phát hiện “vợ chồng” Tư Mắm trong vai khách thương hồ là gián điệp, là quân do thám. Đây chính là ngón chơi nhiều thi pháp. Nó đã tạo cho mạch truyện một tiết tấu nhanh, mạnh, dồn dập với nhiều uẩn khúc, khiến bạn đọc khó lòng hờ hững. Dĩ nhiên trong văn chương tài năng cấu trúc không phải là tất cả. Nhưng tình tiết éo le, gay cấn chỉ như một gia vị cần thiết cho những phẩm chất chính: đó là vốn sống và ngôn từ của Đoàn Giỏi. cũng là tiểu thuyết phiêu lưu mạo hiểm, một thể loại mạnh của văn học thiếu nhi. Tiểu thuyết phiêu lưu có hoàn cảnh luôn thay đổi, nhân vật luôn đứng trước những bí ẩn, khó khăn, thử thách… Năm 1961, một tiểu thuyết phiêu lưu của Đoàn Giỏi đã được hoan nghênh:

Về sau, khi An đã có chỗ nương tựa, dù sự tích vẫn âm thầm diễn tiến, nhiều đoạn vẫn tạo ra những tình huống bất ngờ, nhưng nói chung mạch truyện đã dãn ra có phần êm xuôi như những trang du kí với tên các chương: Đi câu rắn, Đi lấy mật, Rừng cháy, Phường săn cá sấu, Qua Stróc Miên, Sân chim… Vậy mà, bạn đọc vẫn thích thú – và có phần thích thú hơn phần đầu. Chính điều đó nói lên công phu và tài năng của tác giả Đất rừng phương Nam. Một mặt Đoàn Giỏi như nhà sinh thái học, phong tục học uyên bác. Nói về nghề nuôi ong lấy mật, ông kể từ ngàn xưa người Hy Lạp, người Ai Cập, Mễ Tây Cơ… đến người Phi Châu đã nuôi ong, làm tổ ong bằng bọng cây, đất nung, rơm bện… Khong có ở đâu gác kèo (một cành tràm có nhiều nhánh) rủ rê ong làm tổ như ở rừng U Minh. Đoàn Giỏi đã từng viết một loại sách về các con vật trên rừng, dưới biển, trong đó mỗi con (hổ, cá sấu, voi…) ông đều kể đến trên dưới 50 trang sách. Không phải chỉ có kiến thức về loài, họ, thói quen sinh thái… mà phần nhiều là những mẩu chuyện có thật sinh động xen lẫn những huyền thoại có xuất xứ hẳn hoi. Trong Đất rừng Phương Nam, ông chỉ sử dụng một phần rất nhỏ vốn sống phong phú đó, mà đã làm người đọc từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác: ba ba to bằng cái nia, kì đà lớn hơn chiếc thuyền tam bản, cá sấu phải 12 trai tráng lực lưỡng mới khiêng nổi. Không chỉ ngạc nhiên mà còn thấm đấm cảm xúc, bởi Đoàn Giỏi là một nhà thơ, một “thi sĩ của Đất rừng Phương Nam” (ý của Trần Đình Nam). Đó là cảm giác ngây ngất trước vẻ đẹp rừng U Minh dưới ánh mặt trời vàng óng: Những cây tràm vỏ trắng vươn thẳng lên trời, chẳng khác gì những câu nến khổng lồ, đầu lá rủ phất phơ như những đầu lá liễu bạt ngàn. Từ trong biển lá xanh rờn đã bắt đầu ngả sang màu úa, ngát dậy một mùi hương lá tràm bị hung nóng… tiếng chim không ngớt vang ra, vọng mãi lên trời cao xanh thăm không cùng… Và nỗi rợn ngợp trước dường sông Năm Căn: Nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa đầu sóng trắng… Con sông rộng hơn ngàn thước, hai bên bờ rừng dưới dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành lòa xòa ẩn hiện trong sương mù và khó sóng ban mai.

Cùng với thiên nhiên được Đoàn Giỏi vẽ với những màu sắc lộng lẫy, cuồn cuộc tràn trề sức sống là những con người Nam Bộ với những nét sắc sảo lạ lùng. Ông không nhiều lời, đôi khi chỉ vài ba nét: những lời nói ngọt nhạt, đãi bôi, thớ lợ, cái túi liền thâm đen, căng phông nhờn mỡ của dì Tư Béo; cái áo vắt vai và những câu đối thoại ngật ngưỡng, hài hước, dở tỉnh, dở say của bà lão Ba Ngù. Tôi muốn nói kỹ hơn hai nhân vật được ông khắc họa kỹ lưỡng nhất: ông Hai bán rắn và chú Võ Tòng. Hai người đều không có đất, quanh năm ở đợ làm thuê cho địa chủ. Bị chúng cướp công, cướp người yêu, cướp vợ. Họ đánh trả và bị tù. Chỗ khác nhau là ông Hai bán rắn – tía nuôi An – trốn tù, đón vợ rồi bỏ vào rừng U Minh. Một con thuyền nhỏ, hai vợ chồng, thằng con trai và con chó Luốc đi lang thang kiếm sống bằng đủ thứ nghề: câu rắn, lấy mật, săn cá sấu… Gương mặt ông khoáng đạt rất dễ mến. Làn da mặt người trẻ, chỉ ở đôi khóe mắt và trên vầng chán cao là có xếp mấy đường ngăn… Đôi mắt to, sáng quắc, núp dưới cặp chân mày rậm đen… Mấy nét thôi, nhưng hiện ra cái vẻ phóng khoáng, tự tin của một đời sống tự do và từng trải. Còn chú Võ Tòng gây án, chú tự đến nhà việc nộp mình. Mãn hạn tù trở về, con chết, vợ trở thành vợ nhỏ chủ đất. Mọi người chờ đợi một cuộc trả thù đẫm máu, nhưng không, Võ Tòng ngửa mặt cười lớn rồi vào rừng làm nghề săn bẫy thú. Một mình chú đã tự tay giết 20 con hổ. Đấy là những chuyện người đời truyền tụng, thật ra, chú tên là gì, quê ở đâu cũng không rõ. Võ Tòng là tên mọi người gọi chú từ một sự tích trong truyện Tàu. Tuy nhiên “danh bất hư truyền”, bởi nó còn đâu đó trên gương mặt: Hai hố mắt ông ta sâu hoắm , và từ trong đáy  hố sâu thẳm đó, một cặp tròng mắt trắng dã, long qua, long lại sắc như dao. Mái tóc hung hung như bờm ngựa phủ dài xuống gáy… Chỗ gò má bên phải, năm cái sẹo dài sả từ thái dương vắt xuống cổ như dấu móng cọp cào… Chuyện bác Hai và chú kết bạn rồi cùng nhau đánh giặc phảng phất màu huyền thoại. Võ Tòng tẩm hàng chục tên thuốc độc và chia bác Hai một nửa. Đã nhiều kẻ thù bị giết vì tên của Võ Tòng. Lần đó, Võ Tòng ngồi trên một cành gừa de ra sông đón ca-nô địch, với hai lần bật cung liên tiếp, chú đã bắt gục hai tên địch. Tiếp đến một ca – nô nữa xuất hiện, khi chú sửa soạn nhô lên ngắm bắn thì bất ngờ lọt vào ống nhòm của con Việt gian (vợ Tư Mắm). Võ Tòng hi sinh, bác Hai đổi hẳn tính nết, suốt ngày lầm lì không nói một tiếng. bác Hai bắt rắn là chuyện thực, Võ Tòng là chuyện vừa thực vừa ảo. Chỗ này tôi nghĩ Đoàn Giỏi lại làm một ngón trộn nữa: trộn cổ điển phương Tây và cổ điển phương Đông – loại tiểu thuyết Tàu vốn rất được phổ cập ở Nam Bộ. Hình thức mà cũng là nội dung. Bởi phương Nam mới khai phá, đất hoang, rừng rậm, chim trời cá nước mênh mông, làm sao người nông dân lại chịu cảnh như anh Pha, chị Dậu… Họ có nhiều tự do hơn, trước kẻ thù (hai chân và bốn chân) họ chống trả quyết liệt. Với bạn bè giai cấp họ gắn bó thủy chung. Họ hào hiệp phóng khoáng kiểu Lương Sơn Bạc. Có thể nói Đất rừng phương Nam đã nói được cái tinh túy của hồn đất, hồn người một vùng châu thổ Cửu Long Giang.

Nhà văn Bùi Hồng



NHỮNG BÌNH LUẬN CỦA THÀNH VIÊN

Sách này mình đã đọc một đoạn trích ngắn thôi hu hu nếu có post lên cho mình đọc nhé SmileLaughing


Xem thêm

Đăng ký hoặc Đăng nhập để được bình luận


NHỮNG CUỐN SÁCH KHÁC TRONG TỦ SÁCH VĂN HỌC THIẾU NHI Xem tất cả >>