Chuyện Nỏ thần

Chuyện Nỏ thần

Tác giả Tô Hoài
Ngôn ngữ Tiếng Việt
Lĩnh vực Văn học Thiếu nhi
Năm xuất bản 2012
Đơn vị xuất bản Nxb Kim Đồng
Giá sách 55.000 VND


Chuyện nỏ thần: Hiện thực và huyền thoại

Có lần khi đọc một truyện ký về cô giáo trường Thăng Long (Hà Nội) tôi bắt gặp một chi tiết: Cô giáo vừa kể xong “Chuyện rùa vàng” thì một học sinh lớp 4 chuyên toán đứng dậy nói “Thưa cô, em không tin có chuyện rùa vàng. Nếu bây giờ thần rùa có hiện lên, em sẽ cưỡi lên lưng thần mà nó : “Thần rùa vàng bốc phét”. Xin hãy bỏ qua thái độ mạnh dạn một cách thiếu tế nhị của một học sinh sớm phát triển về lý trí mà chú ý đến nhận xét: Cùng với sự lớn lên về lứa tuổi, thế giới huyền thoại thu hẹp dần; lý trí, tư duy khoa học phát triển; các em không thể nào bằng lòng với ấn tượng về những nàng tiên, về chiếc lẫy nỏ bằng móng rùa vàng. Đến một lúc nào đó, các em muốn biết sự thật đằng sau những huyền thoại. Vì vậy bên cạnh truyền thuyết, huyền thoại cũ và mới, tái hiện cuộc sống trong hình thức như nó vốn tồn tại với những sự việc, những con người cụ thể với những mối quan hệ thường ngày như thiên tiểu thuyết hiện thực “Chuyện nỏ thần” của Tô Hoài cũng là một hướng đi cần thiết, bổ ích đối với bạn đọc, nhất là lứa tuổi thiếu niên.

Bút pháp hiện thực đòi hỏi trước hết là sự chân thật của các chi tiết. Sự chân thật này, đối với tiểu thuyết lịch sử, cần phải xem xét ở nhiều bình diện, trước hết là cách nhìn là cách cảm nhận của tác giả và bạn đọc hôm nay. Đây vốn là mặt mạnh của ngòi bút Tô Hoài. Chuyện nỏ thần chứa đầy những phong cảnh, tập tục, cách làm ăn sinh sống của người Âu Lạc. Từ cảnh làng mạc, bờ bãi, sông nước… đến cảnh núi rừng hoàng sơ, từ những buổi săn voi, tập võ, đến những ngày hội hè đình đám; từ không khí tấp nập lao động xây thành đào hào đến không khí trang nghiêm cẩn mật khi rót đồng vào khuôn, khi đốt trầm rửa nỏ…

Nhiều người khen sự từng trải và tài quan sát, miêu tả của Tô Hoài. Hẳn anh phải đi nhiều, sống nhiều với đồng bào các dân tộc ít người - những địa bàn còn lưu giữ nhiều cách làm ăn, nhiều phong tục tập quán cổ truyền. Tuy nhiên không chỉ quan sát, từng trải mà viết được những trang sách đậm đà như vậy. Chính là sự rung cảm, là tâm hồn, là tấm lòng của tác giả. Như một nhân vật được anh thể hiện thành công trong truyện – Lý Ông Trọng – Tô Hoài đi nhiều nơi, hiểu nhiều nước và tâm hồn anh càng nhuần nhị, càng gắn bó với nền văn minh sông Hồng một thưở, càng tha thiết với cội nguồn dân tộc. Chẳng thế mà anh đã có ba tiểu thuyết dài cho thiếu nhi về thời dựng nước: Đảo hoang, Chuyện nỏ thần Nhà Chử. Tôi trở lại tính chân thật của các chi tiết. Nếu cách nhìn, cách cảm nhận của tác giả mang tính hiện thực lịch sử thì cách nhìn, cách cảm nhận của nhân vật – những người sống cách chúng ta hơn 2000 năm – ít nhiều mang tính huyền thoại. Bởi lẽ với họ cái thực và cái hư, cái đã xảy ra và cái nằm trong mơ ước chưa thật rạch ròi. Kết hợp được cách nhìn của tác giả và các nhìn của nhân vật là kết hợp lịch sử với huyền thoại. Chính đó là đặc sắc của bút pháp hiện thực trong Chuyện nỏ thần. Chẳng hạn, chi tiết “nỏ thần” là chi tiết có ý nghĩa then chốt của câu chuyện, tác giả đã miêu tả cụ thể:

Giữa bệ, cỗ nỏ thần uy nghi như con voi to nhất đàn phủ phục chầu ra. Lòng máng nỏ dài mười sải, vành tròn một ôm bằng cả khuôn mặt cái trống đại. Một hàng cột tên đồng to như những cây gỗ mỡ, sáng loáng, nhô đầu trên cánh nỏ. Mỗi bên hai mươi quân nỏ cao lớn, cởi trần, quỳ một gối. Buốn mươi lực sĩ hai vế dang tay kéo nỏ. Mỗi cánh nỏ dài bằng cây luồng ngộ, ghép mảng nửa ống một, buộc ken thừng da trâu như chiếc cột vút đầu, nặng mà dẻo lạ lùng. Hai đầu cánh từ từ viets xuống. Đến lúc dây nỏ khớp được vào máng, cả tám mươi cánh tay lực sĩ kiệt sức, ngã cả ra” (Trang 98 – 99).

Các nhà chuyên môn về vũ khí có thể có ý kiến này khác về mặt kỹ thuật nhưng bạn đọc đã có thể hình dung được nỏ thần như một thứ vũ khí hiện đại – nói theo kiểu chúng ta – có tầm vóc lớn, có sức bật mạnh. Cách miêu tả cường điệu cùng với lễ tắm rửa, xông hương, tác giả tạo nên một sương khó huyền thoại xung quanh cây nỏ. Còn những tình tiết chính của huyền thoại thì tác giả đặt vào giấc mơ của vua Thục:

Đêm trước, tại lại nằm mơ thấy ông già ngoài thành phía tây gọi bảo sáng mai ra gặp thần Rùa. Sớm ra thì thấy thần Rùa đang bơi từ phía đông sông Cái vào. Thần Rùa hỏi: Xây được thành rồi, vua chủ có bao nhiêu voi, bao nhiêu nỏ để giữ thành? Ta đáp: Có một nghìn voi, có một vạn nỏ. Thần Rùa nói: Triệu Đà ở Phiên Ngung có triệu quân, triệu cánh cung, vậy thì vạn nỏ, vạn tên đồng của vua chủ bắn ra chỉ đủ để lót đường. Ta lại hỏi: Thế thì làm thế nào? Thần Rùa nói: Ta cho vua chủ chiếc móng rùa này làm lẫy nỏ. Một phát nỏ lẫy thần bắng một lúc mười mũi tên tan mười vạn giặc. Ta lại hỏi: Làm thế nào chế được móng rùa thành lẫy nỏ? Thần Rùa bước ra khỏi mặt nước, dặn ta: Cao Lỗ biết xây thành Loa, Cao Lỗ sẽ biết làm lẫy nỏ. Cứ hỏi Cao Lỗ. Ta tỉnh giấc. Vẫn thấy mình nằm trên giường. Nhưng trong tay cầm chiếc móng rùa. Ngắm nghĩa, quả nhiên thấy đúng chiếc móng thần Rùa vừa cho” (Trang 85).

Vậy là huyền thoại đã chuyển vào nội tâm nhân vật hay nói đúng hơn là nó đã trở về đúng nơi nó sinh ra, như một luận điểm nổi tiếng của các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác: Thần thánh là con người tạo thành.

Một chi tiết khác: phút cuối cùng của vua Thục. Tô Hoài đã dựng lên một cảnh tượng bi tráng gần gũi với truyền thuyết mà vẫn chấp nhận được như một sự thực lịch sử.

Mặt bể bỗng phẳng lặng.

Một con rùa bơi lướt ra. Có phải vẫn con rùa ấy thường bơi nhởn trên sông dưới chân thành với chim bói cá, với lá trang, lá súng. Những ngày xây thành rộn rã. Những năm hội rửa nỏ. Con rùa ngoảnh mặt trông lên thành cấm. Những mùa gặt hái đông vui đồng bãi sông. Rùa tha thẩn lượn quanh đóa hoa súng trắng muốn. Rùa ngếch đầu trên đám lá trong nhìn lên.

Vua Thục chắp tay vái con rùa đang bơi tới:

Tiếng vang trong nước:

- Giặc sau lưng nhà vui chứ đâu.

Vua Thục thoắt quay đầu lại. Vua Thục vung gươm chém quanh một vùng. Bốn bề chỉ nghe tiếng gươm bay vù vù trong tiếng sóng dào dạt. Vua Thục không thấy gì.

- Giặc ngồ sau lưng nhà vua đấy kia.

Vua Thục rùng mình. Sắc mặt đương đỏ rực bỗng đen xám như chân sóng. Vua Thục quắc mắt nhìn Mỵ Châu. Mỵ Châu rụng rời hai tay, buông tâm chăn lông ngỗng rơi xuống. (Trang 215 – 216).

Con rùa thần thoại đã trở thành con rùa trong tâm tưởng vua Thục. Như một tia chớp, chợt lóe lên rọi sáng tất cả, nhà vua thấy rõ lỗi lầm, nhìn rõ kẻ thù của mình. Đó là lúc:

Những con sóng thần kéo ngọn nước lên cao như đỉnh lũ. Vua Thục, Mỵ Châu, Lưỡi kiếm. Cái chăn lông ngỗng. Và chiếc ngựa. Tất cả cuốn vào lòng bể (Trang 216).

Đối với Vua Thục, cái kết cục này bi thảm hơn truyền thuyết. Đây không phải chỉ là tính chân thật của chi tiết mà đằng sau đó và có tính quyết định hơn là mối quan hệ hiện thực về tính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình. Nhân vật chính của truyền thuyết là Mỵ Châu – Trọng Thủy. Những hình tượng nghệ thuật tuyệt vời: lông ngỗng, ngọc trai, giếng nước, chứa đựng những suy tưởng, những cảm nghĩ của nhân dân về đời về khát vọng hạnh phúc muôn thuở của con người và những hạn chế cay nghiệt của lịch sử. Hẳn tác giả có thừa nhạy bén để bắt gặp nhưng cảm hứng này nhưng trung thành với hiện thực lịch sử và thể hiện trách nhiệm của nhà văn trước những vấn đề chủ yếu của cuộc sống, anh đã chuyển vào một hướng khác: đấy là cuộc đấu tranh lâu dài trong nội bộ dân tộc, trong mỗi con người về cái hay, cái dở, cái phải, cái trái. Anh dồn bút lực miêu tả hai nhân vật điển hình: Cao Lỗ và Thục Phán.

Cao Lỗ là đô vật nổi tiếng đất Vũ Ninh lại được Lý Ông Trọng – một người được miêu tả như là tiêu biểu cho những gì tốt đẹp nhất của đất nước Văn Lang, của mười tám đời vua Hùng truyền lại – chăm sóc, dạy bảo và tiến cử với vua Thục. Tô Hoài đã thể hiện Cao Lỗ như một tài năng: là nhà chiến lược có tầm nhìn xa rộng, là “kiến trúc sư” của những kỳ công về quân sự: xây thành Cổ Loa, chế tạo “nỏ thần” là dũng sĩ tự tay hạ sát tướng giặc Đồ Thư lại là người chỉ huy tài năng của những trận diệt Tần, phá Triệu… Dù toàn năng, toàn tài, Cao Lỗ cũng là một con người bình thường, giản dị, người từng rung cảm với những số phận bất hành như số phận cô Tàm. Cũng như bất cứ một người anh hùng chân chính nào, Cao Lỗ luôn luôn gắn bó với nhân dân. Xây xong thành Cổ Loa, vua Thục khen tài trí của ông, ông nói: “Vua chỉ quá khen, làm tôi nghĩ mà thẹn. Chỉ bởi cố Ông Trọng đã dạy, mới nên thành này. Rồi nhờ được người tám cõi cùng một bụng với oai vua, lại có quân quan không phân biệt ngôi thứ, giường chiếc, quan đầu triều cũng như quân dắt ngựa, đã cùng đổ mồ hôi. Thế thì việc khó đến đâu mà chả xong” (Trang 83).

Cao Lỗ có một nhược điểm là ông quá bộc trực thẳng thắn nhiều lần ông can vua Thục làm cho vua bực mình và đuổi ông đi cho “khuất mắt”.

Song song và gần như phát triển đối lập với Cao Lỗ là hình tượng Thục Phán. Người thủ lĩnh bộ tộc Âu Việt lúc mở đầu cơ nghiệp cũng là người lao động đầy sức sống, “Vua Thục cởi trần lực lưỡng, tay cầm cương ngựa, cái giậm xúc cá vác trên bả vai” (trang 26).

Khi cần phải nộp trâu để mưa sát Đồ Thư, vua chủ cũng xót xa: “Nhưng làm nên việc mà mất hai trâu cũng tiếc. Giặc Tần ăn hết trâu cõi ta rồi” (trang 56).

Nhưng những thắng lợi liên tiếp: diệt Tần, phá Triệu đã tạo cho vua Thục một ảo tưởng, cái ảo tưởng về sức mạnh, về quyền lực của mình. Từ cái ý thức về mình quá cao đó, vua chủ đã mất dần mối liên hệ với nhân dân. Mấy lần Cao Lỗ can vua: đừng ỷ vào thế mạnh của thành trì, đừng bắt trâu giết thịt giữa mùa cày, đừng lóa mắt vì đồ tiến cống của Triệu Đà… Mỗi lần như vậy mâu thuẫn vua tôi ngày một tăng thêm. Cho đến lúc Cao Lỗ nhắc vua cảnh giác với Trọng Thủy thì xung đột lên đến tột đỉnh: Vua Thục đuổi Cao Lỗ.

Truyền thuyết kể vua Thục mất nước vì mất nỏ thần. Tô Hoài vẫn giữ nguyên tình tiết đó (Sao lại tước đi một hình tượng nghệ thuật giàu ý nghĩa và đã in đậm trong lòng người). Nhưng qua việc miêu tả mối quan hệ Cao Lỗ và Thục Phán, bạn đọc hình dung được một cách sâu sắc cái gì ẩn náu đằng sau huyền thoại nỏ thần. Ấy là cuộc đấu tranh cho lẽ phải, cho độc lập, tự do và phẩm giá con người. Tôi thấy thú vị khi bắt gặp hình ảnh vua Thục khi đã nhiều tuổi vẫn là một lực sĩ, một đô vật trên tài các lạc tướng, ngang sức với tướng tài Cao Lỗ. Con người là thế, cái sức lực cường tráng không thể cứu nổi sự suy sụp về tinh thần, suy sụp chỉ vì say mê chiến thắng, say mê bản thân!

Quá trình xây dựng các tính cách điển hình, tác giả luôn giữ được sự kết hợp giữa hiện thực và huyền thoại… Tuy nhiên từng chương, từng đoạn chưa có sự nhuần nhuyễn đồng đều. Nhiều người thích chương đầu, chương viết về Lý Ông Trọng, dường như tác giả đã kết hợp một cách tài tình những chi tiết tả thực về hình dáng, sức vóc, hành động… và những lời đồn đại, những truyền thuyết. Cảnh và tình, thực và hư cứ đan quyện vào nhau trong một ngôn ngữ hình tượng giầu có tươi mát. Còn chương cuối sách nhiều bạn đọc thích vì chất triết lý hàm súc của nó, vì cái cách tự phê bình độc đáo của vua Thục. Nhưng cũng có người không thích vì cái thực, cái hư còn khá tách bạch, huyền thoại chưa nhuyễn vào tâm trạng nhân vật.

Theo tôi nghĩ, gần 250 trang sách, cả một cuộc “trường chinh” tác giả đã như một người làm xiếc như một diễn viên lão luyện luôn luôn giữ được thăng bằng thì đến vài trang cuối cùng, người diễn viên xiếc ấy đã vứt cả dây bảo hiểm, bất chấp cả luật thăng bằng mà bay vút lên, càng đẹp chứ sao! Cái hư đã hoàn toàn thoát cái thực để trở nên thực hơn – thực với lịch sử và thực với suy tư của người đọc hôm nay.



Đăng ký hoặc Đăng nhập để được bình luận


NHỮNG CUỐN SÁCH KHÁC TRONG TỦ SÁCH VĂN HỌC THIẾU NHI Xem tất cả >>


Sách đọc nhiều nhất

Nghệ nhân và Margarita

Tác giả: Mikhail Bulgacov

Nhóc Nicolas - Trọn bộ 6 quyển

Tác giả: René Goscinny - Sempé

Suối nguồn

Tác giả: Ayn Rand

Chiến tranh và Hòa bình

Tác giả: L. Tolstoi

Nghĩa vụ học thuật

Tác giả: Donal Kennedy


SÁCH MỚI

Ý niệm đại học Ý niệm, theo đúng nghĩa, không phải là “sáng kiến” chủ quan, mà là kết quả của lao ...